Chuyển đến nội dung

Hotline

08.1900.6181

Guitar bass

Đàn Guitar Bass Fender Chính Hãng

Đàn guitar bass Fender (Fender bass) là bass điện của hãng đã tạo ra Precision Bass và Jazz Bass. Danh mục có 47 mẫu Fender Jazz Bass, Precision Bass, Mustang, Jaguar và Bass VI thuộc các dòng Player II, Made in Japan, Vintera II, American Professional II, American… Đọc hướng dẫn chọn mua ↓

46mẫu đang bán

0 trong số 46 sản phẩm

Không có sản phẩm nào phù hợp với các bộ lọc đó.

Sử dụng ít bộ lọc hơn hoặc

Xóa tất cả

Đàn guitar bass Fender (Fender bass) là bass điện của hãng đã tạo ra Precision Bass và Jazz Bass. Danh mục có 47 mẫu Fender Jazz Bass, Precision Bass, Mustang, Jaguar và Bass VI thuộc các dòng Player II, Made in Japan, Vintera II, American Professional II, American Ultra II, American Vintage II và signature nghệ sĩ, giá từ khoảng 24 triệu tới gần 69 triệu. Cây Fender đầu tiên nên bắt đầu từ Player II hoặc Made in Japan Hybrid II.

Tóm tắt nhanh

  • Precision Bass có một pickup split-coil, tiếng trung trầm đầy; Jazz Bass có hai pickup single-coil và đầu cần thon hơn: lược 38,1 mm, trong khi đa số mẫu P trong danh mục rộng khoảng 40–44,5 mm.
  • Danh mục gồm 42 mẫu 4 dây, 4 mẫu 5 dây, 1 Bass VI 6 dây, 2 mẫu fretless, 1 mẫu tay trái, 4 mẫu short scale 30 inch và 1 bass thùng CB-60SCE.
  • 38/47 mẫu là mạch passive, cắm là chơi, không cần pin; bản có preamp active/passive nằm ở Player Plus, American Ultra II và vài mẫu signature như Troy Sanders, MonoNeon.
  • Ba nấc giá chính: Made in Japan khoảng 24–35 triệu, Vintera II (làm tại Mexico) 30–36 triệu, nhóm American làm tại Mỹ khoảng 40–69 triệu.
  • Ngân sách dưới 16 triệu thì xem đàn guitar bass Squier, thương hiệu Fender dùng cho các dòng giá dễ tiếp cận, cùng dáng P, J, Mustang.

Chọn nhanh bass Fender theo nhu cầu

Đối tượng / nhu cầu Nên chọn Mẫu gợi ý trong danh mục Vì sao
Cây Fender đầu tiên, lên đời từ Squier P hoặc J 4 dây passive, scale 34" Fender Player II Jazz Bass, Made in Japan Hybrid II Precision Bass Nấc giá thấp nhất của Fender, cần "C" hiện đại dễ bấm.
Nhà thờ, đệm hát, ban nhạc pop-rock Precision Bass 1 pickup hoặc PJ American Professional II Precision Bass, American Performer Precision Bass Hai núm, tiếng nền chắc, ít phải chỉnh.
Funk, slap, R&B Jazz Bass 2 pickup, có thể thêm EQ active American Professional II Jazz Bass, Player Plus Jazz Bass Trộn hai pickup cho tiếng slap rõ; Player Plus có EQ 3 băng.
Rock nặng, metal, drop D PJ hoặc HH, preamp 18V Troy Sanders Precision Bass, Duff McKagan Deluxe Precision Bass Output mạnh; Duff McKagan có khoá Hipshot hạ dây E xuống D.
Tay nhỏ, thích đàn gọn Short scale 30" American Performer Mustang Bass, JMJ Road Worn Mustang Bass Phím gần nhau hơn, bấm nhẹ tay.
Cần dây B thấp 5 dây, lược 47,6 mm Hybrid II Jazz Bass V, American Professional II Precision Bass V Có nốt Si thấp, hợp gospel, worship, metal.
Jazz, fusion, tiếng fretless Jazz Bass không phím, dây flatwound Jaco Pastorius Fretless Jazz Bass, American Professional II Jazz Bass Fretless Tiếng hát, trượt nốt mượt; cả hai xuất xưởng với dây flatwound và hộp cứng.
Sưu tầm, tiếng đời gốc Nitro lacquer, pickup Pure Vintage American Vintage II 1954 Precision Bass, Made in Japan Heritage '60s Jazz Bass Cần, pickup, ngựa theo đúng năm gốc.

Fender bass: từ Precision Bass 1951 tới các dòng hiện nay

Fender do Leo Fender thành lập năm 1946 tại California. Năm 1951 hãng ra Precision Bass, được xem là cây bass điện có phím đầu tiên sản xuất hàng loạt: phím đàn giúp bấm đúng cao độ, thân đặc cắm ampli nên người chơi không còn bị trống và kèn át tiếng như với contrabass. Jazz Bass ra năm 1960 với thân eo lệch và hai pickup; Bass VI sáu dây có từ năm 1961 và Mustang Bass short scale từ năm 1966.

Ngày nay bass Fender chia theo nơi làm: các dòng Mexico, Made in Japan và nhóm American làm tại Mỹ; dải giá thấp hơn mang thương hiệu Squier.

Các dòng bass Fender trong danh mục

Dòng Đặc điểm chính Số dây Hợp với ai Mẫu
Player II, Player Plus Player II passive; Player Plus có EQ 3 băng active/passive 4 Cây Fender đầu tiên Player II Jazz Bass, Player Plus Active Meteora
Made in Japan Traditional II Cần "U" phủ bóng, 20 phím vintage 4 Thích cần đầy tay kiểu cổ Traditional II '60s Jazz Bass, Traditional II '60s Precision Bass
Made in Japan Hybrid II Cần Modern "C" lưng satin, 21 phím Narrow Tall 4, 5 Muốn dáng vintage, cần hiện đại Hybrid II Jazz Bass, Hybrid II Jazz Bass V
Made in Japan Heritage Mặt phím 7,25", pickup Premium Vintage-Style 4 Cần chất đời gốc, chưa tới giá dòng Mỹ Heritage '50s Precision Bass, Heritage '70s Jazz Bass
Vintera, Vintera II Vintera II làm tại Mexico, cần theo từng thập niên 4, 6 Mê tiếng thập niên 50–70 Vintera II '60s Precision Bass, Vintera '70s Telecaster Bass
American Performer Làm tại Mỹ, pickup Yosemite 4 Cây bass Mỹ đầu tiên American Performer Jazz Bass
American Professional II Pickup V-Mod II, ngựa HiMass, kèm hộp cứng 4, 5 Đi show, phòng thu American Professional II Jazz Bass
American Ultra II Cần Modern "D", preamp active/passive 4, 5 Cần dải tiếng rộng nhất American Ultra II Jazz Bass
American Vintage II Nitro lacquer, pickup Pure Vintage theo năm 4 Sưu tầm, thu âm tiếng cổ American Vintage II 1960 Precision Bass
Artist (signature) Cấu hình riêng của từng nghệ sĩ 4, 5 Theo gu tiếng một tay bass cụ thể Flea Jazz Bass, Geddy Lee Jazz Bass

Player II và Player Plus

Player II Jazz Bass có cần Modern "C", mặt phím 9,5 inch mép bo tròn, hai pickup Alnico 5 và mạch passive hai volume một tone; đàn không kèm bao. Player Plus Jazz Bass chuyển sang mặt phím 12 inch, pickup Player Plus Noiseless và EQ 3 băng có công tắc active/passive. Player Plus Active Meteora dùng dáng thân Meteora với hai humbucker Fireball, còn bản giới hạn Player Plus x Blu DeTiger Jazz Bass có thân ash rỗng khoang, humbucker Fireball ở ngựa và preamp 18V.

Made in Japan: Traditional II, Hybrid II, Heritage

Traditional II như '50s Precision Bass, '70s Jazz Bass giữ cần "U" phủ bóng và 20 phím vintage; Original '50s Precision Bass còn dùng pickup một cuộn và ngựa 2 saddle như P Bass đời đầu. Hybrid II (Hybrid II Precision Bass, Jazz Bass, Jazz Bass V) có pickup Hybrid II Custom Voiced, lưng cần satin khô tay và khối sustain dưới ngựa.

Heritage là nấc cao nhất của nhóm Nhật: cả ba mẫu có mặt phím 7,25 inch, khoá Pure Vintage, kèm bao Deluxe; cần bản '50s P và '60s J phủ nitrocellulose trên lớp lót urethane. Hama Okamoto Precision Bass là signature làm tại Nhật, ghép thân P với cần profile '60s Jazz Bass lược 38,1 mm, hợp người thích tiếng P nhưng quen cần J.

Vintera II: tiếng từng thập niên

Vintera II '50s Precision Bass có cần Late '50s "C", mặt phím maple và pickguard nhôm anod vàng; Vintera II '60s Precision Bass dùng cần Early '60s "C" và mặt phím slab rosewood. Cả hai có lược 44,45 mm, rộng nhất danh mục, hợp tay to. Vintera '70s Telecaster Bass có một humbucker Wide Range ở gần cần và ngựa 2 saddle, tiếng dày, ấm. Vintera II '60s Bass VI là bass 6 dây scale 30 inch, ba pickup, cần vibrato, lên dây thấp hơn guitar một quãng tám. Xem bài đánh giá Fender Vintera '50s Precision Bass.

American Performer, Professional II, Ultra II

American Performer Precision Bass là bản PJ với pickup Yosemite, có mạch Greasebucket cắt treble mà không làm đục tiếng, kèm bao Deluxe. American Professional II có pickup V-Mod II, hai thanh graphite Posiflex trong cần, ngựa HiMass lên dây xuyên thân hoặc top-load và hộp cứng Deluxe Molded; dòng này có cả Jazz Bass Fretless và Precision Bass V.

American Ultra II dùng cần quartersawn maple dáng Modern "D", 21 phím, chấm cạnh Luminlay phát sáng trên sân khấu tối. Công tắc S-1 trên núm volume chuyển active/passive, có thêm công tắc chọn tần số trung 325 Hz hoặc 750 Hz. Ultra II Precision Bass là cấu hình PJ, còn Ultra II Jazz Bass và Jazz Bass V có mặt phím ebony ở bản Ultraburst.

American Vintage II

1954 Precision Bass có thân ash, pickup Pure Vintage '54 một cuộn, ngựa 2 saddle và dây flatwound, cho tiếng "thump" ngắn của P Bass đời đầu. 1960 Precision Bass chuyển sang pickup split-coil và slab rosewood. 1966 Jazz Bass có cần "U", mặt phím rosewood viền trắng, có cả bản tay trái.

Signature nghệ sĩ và bass thùng

Nhóm Artist có Flea Jazz Bass Road Worn làm tại Mexico với pickup Pure Vintage '64 và núm chồng tầng; Steve Harris Precision Bass dùng pickup Seymour Duncan SPB-4 và dây Rotosound flatwound; Mike Dirnt Road Worn Precision có cần Thick "C" và hộp cứng; Adam Clayton Jazz Bass dùng pickup Custom Shop '60s. Cần bass mộc cắm điện, Fender CB-60SCE có mặt spruce nguyên tấm, scale 32 inch và preamp Fishman có tuner.

Chọn bass Fender theo đối tượng

Người lên đời từ Squier, mua cây Fender đầu tiên

Tập một hai năm trên Squier rồi, bước lên hợp lý là một cây passive 4 dây tầm 24–30 triệu: Player II Jazz Bass nếu thích phím medium jumbo, Hybrid II Jazz Bass nếu muốn đàn làm tại Nhật với 21 phím Narrow Tall, Traditional II '60s Precision Bass nếu thích cần dày, bóng kiểu cổ.

Nhà thờ, phòng trà, ban nhạc cưới

Ở đây cần tiếng nền đều, dễ đưa vào mixer. Một cây P passive chỉ có volume và tone như Vintera II '60s Precision Bass rất khó chỉnh sai. Ban worship hay xuống nốt Si thấp thì American Professional II Precision Bass V giữ chất P trên 5 dây.

Funk, slap, gospel

Mở đều hai volume của Jazz Bass cho tiếng trung hơi lõm, nốt búng bật rõ. Muốn chỉnh EQ trên đàn, chọn American Ultra II Jazz Bass; cần 5 dây và tiếng humbucker hiện đại, chọn MonoNeon Jazz Bass V với 22 phím, cần và mặt phím roasted maple.

Rock, punk, metal

P Bass gảy pick là nền của nhiều ban rock; signature của Mike Dirnt, Nate Mendel (pickup Seymour Duncan Quarter Pound), Steve Harris đều là P một pickup. Chơi drop tuning, cần output lớn thì chọn Troy Sanders Precision Bass với pickup PJ của Tim Shaw, hoặc Duff McKagan Deluxe có tone TBX.

Tay nhỏ, tay trái, fretless

Tay nhỏ nên thử short scale 30 inch như JMJ Road Worn Mustang Bass hay Mike Kerr Jaguar Bass; bài đánh giá Fender Mustang Bass nói rõ cảm giác chơi dáng này. Người thuận tay trái có American Vintage II 1966 Jazz Bass Left-Hand, các hãng khác ở danh mục bass tay trái. Jaco Pastorius Fretless Jazz Bass có mặt phím pau ferro phủ urethane kẻ vạch, hợp jazz, fusion.

Bass Fender theo ngân sách

Khoảng giá tham khảo theo danh mục ngày 04/11/2026, có thể thay đổi.

Tầm giá Số mẫu Kiểu đàn điển hình Gợi ý
Dưới 20 triệu 1 Bass thùng cắm điện Fender CB-60SCE
20–30 triệu 10 Player II, Made in Japan Traditional II, Hybrid II Player II Jazz Bass, Hybrid II Precision Bass, Traditional II '60s Jazz Bass
30–40 triệu 17 Vintera II, Player Plus, Heritage, American Performer, signature Road Worn Vintera II '50s Precision Bass, American Performer Jazz Bass, Heritage '60s Jazz Bass
40–50 triệu 9 American Professional II, signature Flea, Troy Sanders, MonoNeon American Professional II Precision Bass, Flea Jazz Bass
Trên 50 triệu 10 American Ultra II, American Vintage II, Geddy Lee, Jaco Pastorius American Ultra II Precision Bass, American Vintage II 1966 Jazz Bass

Fender Precision Bass, Jazz Bass hay Mustang: khác nhau thế nào?

  • Precision Bass (P Bass): một pickup split-coil ở giữa thân, hai nửa lệch nhau dưới cặp dây E-A và D-G. Tiếng đầy dải trung trầm, đầu nốt chắc, ít phải chỉnh. Cần thường rộng hơn: 41,3 mm ở American Professional II, 42 mm ở dòng Made in Japan, 44,45 mm ở Vintera II.
  • Jazz Bass (J Bass): hai pickup single-coil, mỗi pickup một núm volume nên trộn được nhiều màu tiếng; pickup ngựa cho tiếng gọn, có "mũi" khi chạy nhanh. Lược 38,1 mm trên hầu hết các mẫu, tay nhỏ bấm quãng rộng dễ hơn.
  • PJ: P ở giữa, J ở ngựa, như American Performer Precision Bass, Ultra II Precision Bass, Duff McKagan. Có tiếng P làm nền và thêm độ sáng của J khi cần slap.
  • Mustang, Jaguar short scale: scale 30 inch thay vì 34 inch, đàn nhẹ và gọn, tiếng ấm, tròn; dây căng ít hơn nên bấm nhẹ hơn.

Fender làm tại Mexico, Nhật hay Mỹ: trả thêm được gì?

Khác biệt nằm ở pickup, phần cứng, lớp phủ và phụ kiện, không phải ở dáng đàn. Vintera II làm tại Mexico dùng pickup Vintage-Style và bao Deluxe. Made in Japan dùng lược xương; Heritage thêm lớp nitro, khoá Pure Vintage. Nhóm American có pickup thiết kế riêng cho từng dòng (Yosemite, V-Mod II, Ultra II Noiseless, Pure Vintage), cần gia cường graphite ở Professional II và hộp cứng ở Professional II, Ultra II. Chơi ở nhà và phòng tập, Made in Japan đã đủ; đi show nhiều, cần tiếng phong phú và phụ kiện đầy đủ thì nhóm American đáng tiền hơn.

Xem thêm

Câu hỏi thường gặp về đàn guitar bass Fender

Nên chọn Fender Precision Bass hay Fender Jazz Bass?

Chọn Precision Bass nếu bạn cần tiếng nền dày, ít chỉnh, chơi pop, rock, nhạc nhà thờ; chọn Jazz Bass nếu thích slap, funk và muốn trộn hai pickup cho nhiều màu tiếng. Tay nhỏ thường thấy cần Jazz Bass dễ bấm hơn. Muốn cả hai, chọn bản PJ như American Performer Precision Bass.

Fender bass rẻ nhất trong danh mục là mẫu nào?

Bass điện Fender bắt đầu ở khoảng 24 triệu với Player II Jazz Bass và Made in Japan Traditional II, Hybrid II; bass thùng CB-60SCE khoảng 9 triệu. Ngân sách thấp hơn nên xem Squier, thương hiệu của Fender, với P, J từ khoảng 4 triệu.

Fender Made in Japan Traditional II, Hybrid II và Heritage khác nhau thế nào?

Traditional II giữ cần "U" phủ bóng, 20 phím vintage, mặt phím 9,5 inch. Hybrid II đổi sang thân alder, cần Modern "C" lưng satin, 21 phím Narrow Tall và có bản 5 dây. Heritage bám sát đời gốc nhất: mặt phím 7,25 inch, pickup Premium Vintage-Style, khoá Pure Vintage, cần bản '50s P và '60s J phủ nitrocellulose.

Bass Fender 5 dây có những mẫu nào?

Danh mục có bốn mẫu 5 dây: Made in Japan Hybrid II Jazz Bass V, American Professional II Precision Bass V, American Ultra II Jazz Bass V và MonoNeon Jazz Bass V. Cả bốn có scale 34 inch và lược 47,6 mm; Hybrid II và Professional II là passive, Ultra II và MonoNeon có EQ active.

Fender bass active hay passive tốt hơn?

Không có loại tốt hơn cho mọi người. Passive như Player II, Made in Japan, American Professional II không cần pin, tiếng tự nhiên. Active như Player Plus, American Ultra II, Troy Sanders cho tăng giảm bass, treble ngay trên đàn và đều có công tắc về passive khi hết pin.

Fender và Squier khác nhau thế nào?

Squier là thương hiệu của Fender, dùng chung tên dáng Precision Bass, Jazz Bass, Mustang nhưng giá dễ hơn nhiều: danh mục Squier hiện từ khoảng 4 tới 16 triệu. Đàn logo Fender làm tại Mexico, Nhật hoặc Mỹ, với pickup và phần cứng riêng từng dòng.

Đàn bass Fender có kèm bao hoặc hộp không?

Tuỳ dòng. American Professional II, American Ultra II, Jaco Pastorius, Adam Clayton, Mike Dirnt kèm hộp cứng; Made in Japan, Vintera II, American Performer kèm bao. Player II Jazz Bass không kèm bao.

Mua đàn guitar bass Fender chính hãng ở đâu?

Guitardien.vn bán bass Fender chính hãng và giao hàng toàn quốc. Cửa hàng ở 250 Cách Mạng Tháng Tám, Phường 10, Quận 3, TP.HCM (08.1900.6181) và 2 Vĩnh Phúc, Ba Đình, Hà Nội (0915.550.103). Bạn nên gọi điện hoặc nhắn tin trước để kiểm tra mẫu và màu mình cần đang có ở cửa hàng nào.

  • Chính hãng, bảo hành toàn quốc

    Theo chính sách của từng thương hiệu

  • Giao nhanh 1–2 giờ

    Nội thành TP.HCM & Hà Nội, tỉnh khác 2–4 ngày

  • Trả góp 3–12 tháng

    Qua thẻ tín dụng hoặc CCCD

  • Đổi mới trong tháng đầu

    Nếu đàn có lỗi từ nhà sản xuất